THÍCH TRÍ SIÊU LÀ AI

      32

TUỆ SỸ, MỘT THIÊN TÀI CỦA VIỆT NAM : Thầyxuất gia từ thuở còn thơ và sống ở Lào, làm chú tiểu Sa Disớm chiều kinh kệ, công phu bái sám, đó là bổn phận của ngườilàm điệu, trong nếp sống nhà chùa. Dù chùa ở Lào hay Việt Namcũng vậy, tụng kinh học luật là điều chính yếu của người xuấtgia tu Phật. Bằng bản chất thông minh, thiên tư từ thuở nhỏ, chonên sau khi xuất gia, Thầy đã miệt mài học hỏi kinh điển, siêngnăng nghiên cứu nghĩa lý đạo mầu. Có lần được nghe quí Ngàikể lại, thời gian sống nơi chùa Lào, suốt ngày Thầy ở dướibàn tượng Phật Bổn Sư thờ nơi chánh điện, để học kinh luật,sưu tra luận nghĩa, mà quí sư Lào sau một thời gian dạy dỗ, đãthấy được trí tánh thông minh của Thầy, biết được đây là bậckỳ tài, là rường cột của Phật giáo, mà chư sư Lào đã khôngđủ khả năng dạy nữa. Để không làm mai một thiên tư trác việt,trí tuệ tuyệt vời, các vị Bổn sư Lào đã gởi Thầy về Việt Nam,cho quí Hòa thượng tiếp tục hướng dẫn, dạy dỗ.

Bạn đang xem: Thích trí siêu là ai

Thầy được đưa về Huế, cùng tu học với quí chưTăng và thành đạt sở học một cách nhanh chóng, như con phượnghoàng khi đã đủ lông cánh tung bay giữa trời cao, như rồng thiêngvẫy vùng nơi biển sâu, sóng lớn. Do vậy, sau một thời gian tham họcvới chư Tổ Đức về phần kinh luật và chữ Nho, Thầy đã thôngsuốt và tự mình phát huy sở học mà không cần thầy dạy. Từđó, Thầy tiếp tục vân du tham học ở chư bậc kỳ tài, hữu danhđương thời, lần hồi Thầy đã vào Sài Gòn để tiếp tay xâydựng và giáo dục đàn em, học trò của mình. Dĩ nhiên, lúc bấygiờ Thầy đã trở thành bậc giáo sư lịch lãm, tri thức bạtchúng. Là vị giáo sư gương mẫu, nồng cốt của Đại học Vạn Hạnh,mà cứ mỗi lần gặp nhau thăm hỏi, những người đồng nghiệp đềugọi Thầy là "chú Sỹ" vì Thầy còn quá trẻ.

Thầy phụ trách dạy tại Đại học Vạn Hạnh chươngtrình Triết học Tây phương, văn học Đông Phương, luận đề Phậtgiáo : triết học Tánh Không, Trung Quán luận, A Tỳ Đạt Ma, đạicương Thiền Quán.... Mặc dầu ở vào lứa tuổi đôi mươi, nhưngThầy đã đóng góp một phần không nhỏ trong nền văn hóa, giáodục của nước nhà và Thầy đã xuất sắc hơn trong lãnh vực ngônngữ : sinh ngữ và cổ ngữ. Thầy tự học, rèn luyện lấy chínhmình vì vậy mọi người ai cũng kính mến, thán phục và có nhiềubạn vong niên dưới mái trường Đại học Vạn Hạnh.

Là một trong những vị tu sĩ trẻ dẫn đầu với kiếnvăn quảng bác, được sự ngưỡng mộ của nhiều thế hệ Tăng sinh,sinh viên. Thầy là vị tu sĩ trẻ nhất, tự học, tự nghiên cứu vàthấu đạt, thông suốt nền Triết học Đông Tây. Một trí tuệ vô sưtrí, mộ vị Thầy không Sư cho chính mình. Thầy đã nghiên tầm thâmsâu vào mọi lãnh vực kinh, luật, luận, xuyên qua những cánh đồnggiáo lý mênh mông, bát ngát, khó hiểu, sâu xa, đòi hỏi một kiếnvăn xuất chúng, mới thể nhập được, nhưng đối với Thầy dườngnhư không khó khăn gì.

Thầy đã đơn đao đột kích phá tung nền Triết họcTánh không, khai quật và trình bày giá trị sâu thẳm tận cùng tưtưởng Trung Quán, phiên dịch giảng giải Trí Độ luận, để từ đó,hình ảnh chư Tổ Đức, luật sư nổi tiếng, vang danh oai đức như TổLong Thọ, người bấy giờ tôn xưng là Đệ nhị Thích Ca, Đề Bà, VôTrước, Thế Thân, Mã Minh, Huyền Trang, La Thập, Tăng Duệ, TăngTriệu... dường như quá gần gũi, quen thân với Thầy. Vì tất cảcác tác phẩm trước tác, dịch thuật của chư Tổ, như là sách gốiđầu giường của Thầy, còn Tam Tạng kinh điển, bộ Đại Tạng, chẳngbộ nào mà Thầy không dở đọc. Người viết đã học với Thầy,sau đó cùng Thầy làm việc dịch thuật Trung A Hàm, Kinh Pháp Cú,tuyển tập Nikàya A Hàm.... qua những năm 75-77 tại Viện Cao Đẳng HảiĐức Nha Trang và 80-84 tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam cũng là nơithư viện Vạn Hạnh (Võ Di Nguy, Phú Nhuận) mới thấy được khảnăng, trí nhớ trác tuyệt của Thầy. Kinh, luật, luận, Tam Tạng giáođiển, hầu như Thầy nằm lòng tự kiếp nào. Có lẽ trong lòng sinhtử vô tận, đã có bao đời Thầy đã là Thiền sư, Pháp sư, Luậnsư, cho nên mỗi khi hỏi đến những pháp số, ý kinh, nghĩa luận trongĐại Tạng, Thầy đều dở đúng số trang, số quyển, số dòng. Phảilàm việc chung với Thầy mới biết được tính cần mẫn, ý chíkiên quyết, tự lập để xây dựng cho chính mình của Thầy. Hầu nhưbất cứ thời điểm nào Thầy cũng học, cũng nghiên cứu, cũngnghiền ngẫm, cũng đọc kinh điển, thi văn, kinh thi, kinh dịch, triếtlý, thi ca ; cũng tự học âm nhạc : dương cầm, vĩ cầm ; cũng tựtập viết chữ Nho : chữ Thảo của Vương Hy Chi ; đọc thơ của LýBạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha.... Thầy sống thanh bạch, đơn sơ, đêmngày miệt mài, trầm mình trong thế giới tâm linh, tư tưởng, triếthọc, thi ca, ngôn ngữ, nên không còn thời giờ nghĩ đến cách ănmặc, bề ngoài như kẻ khác. Do vậy, trên người của Thầy, luônluôn với bộ áo nhật bình 4 vạt úa mầu với thời gian, dài tớidưới đầu gối, khi dạy học cũng như lúc ra ngoài. Dáng người tuynhỏ nhắn, nhưng khối óc thì vĩ đại, thông minh thiên phú. Chính vìbản chất thông minh đó mà tên Tuệ Sỹ là do Thầy tự đặt, sau khihiểu và thông đạt được tư tưởng tu chứng của Thiền sư TuệTrung Thượng Sỹ, đời Trần, Thầy đã lấy tên Tuệ Sỹ, trong bốnchữ Tuệ Trung Thượng Sỹ. Khi đặt pháp danh của Thầy là NguyênChứng có lẽ Ôn Già Lam đã thấu hiểu được tâm tư của Thầy,tài nghệ khác thường hơn người đời, như rồng thiêng vẫy vùngnơi đại hải, nên lắm lúc cũng bất chừng khi tâm thức vùng dậy,như trận cuồng phong xô giạt phá đổ mọi thành trì, chướng ngại,trở lực của thế giới trí thức, liễu tri thế gian, mở bày mộtchân trời giải thoát của tâm hồn Đại Sỹ, bao la, vô cùng tận. Dovậy, nhìn vào đời sống của Thầy thật đơn giản nhưng sung túc,cặm cụi nhưng thư thái, nhiệt tâm nhưng buông xả, mà Thầy thườngdạy anh em Tăng sinh viên, như "hạt xả không trí", nhưhạt bỏ ao hoang, không luyến lưu, tham đắm mọi hình thái của cuộcđời.

Từ trí tuệ hơn người, Thầy đã đi bằng đôi chândân tộc, đạo pháp, khai quật và tỏ bày con đường tự do, hạnhphúc cho quê hương Việt Nam ; mang tinh thần triết lý văn học vàocuộc đời thăng hoa sự sống ; phát triển và trao truyền tinh thầntriết học của luận, thực nghiệm tu chứng của kinh và hành trìnghiêm mật của luật cho nếp sống Tăng sinh trẻ, Thầy đã sống bằnggiá trị thực tiễn của lẽ sống phụng sự, hy sinh, gương mẫu nhằmhướng đến chân trời kiến văn cho tất cả mọi người.

 

BÓNG NGƯỜI TRÊN ĐỈNH NÚI

Dừng chân đứng lại trên ngọn đồi Trải Thủy, nhưhình con dơi đang xòe cánh, Thầy đã sống bình lặng qua bao tháng ngàyêm đềm, giản dị, gần gũi, thân thương như hòa tâm cùng cỏ cây,vách đá, gió núi, và hương vị nước mặn của sóng biển. Lầnđầu tiên gặp Thầy, như đã nói trên, trong cung cách thật dung dị,chiếc quần màu cà-phê tái nhạt, chiếc áo nhật bình đã sờn vaitheo năm tháng mà lại ngắn ngủn, đầu tóc hơi dài hơn bìnhthường, thật phù hợp, ăn tiệp với nhau từ đầu đến chân. Tuynhiên, một điểm nổi bật trên khuôn khổ ấy là đôi mắt sâu vàsáng quắc. Nhìn vào đôi mắt ấy như hai hố thẳm của tư tưởng,khó ai có thể dò tới đáy sâu của hố thẳm là bao nhiêu. Trongtận cùng của hố thẳm ấy, là một trời trăng sao văn học, triếtlý, đạo lý... tiềm tàng ngút ngàn mù khơi, như sóng biếc trêngiòng Chiết Giang ; thâm u, cô tịch như hòn Lô Sơn mà Thầy đã dịchtrong bộ Thiền Luận.

Giờ học đầu tiên Thầy giảng về nền Triết họcTây phương qua các tư tưởng Henry Miller, Jean Paul Sartre, Engel, Platon...nghe sao mà khó hiểu vô cùng nhưng có gì là lạ, lý thú trong cáchgiảng dạy của Thầy, không cần sách vở, chỉ nói và nói. Nói nhưdòng thác đổ từ trên cao, vì đầu nguồn của dòng thác chứađầy nước, được sung mãn vô kể, do vậy, cứ đổ hoài mà khôngbao giờ vơi. Thầy đem tất cả sở học, kiến thức trao truyền lạicho anh em ; tuy nhiên, anh em Tăng sinh khó có thể thâu đạtđược hết những gì Thầy đã truyền giảng. Từ chân trời phươngTây đến góc biển phương Đông, bao nền Triết học Khổng Tử, LãoTử, Trang Tử, Kinh Dịch, Đạo Đức Kinh, Kinh Thi ; văn học Trung Hoa,Đào Tiềm, Hàn Dũ, Tô Đông Pha.... Các thi hào, thi bá như mộtcánh đồng văn học đầy hoa thơm cỏ lạ mà Thầy là con ong đang bayđi hút mật trên cánh đồng nhiều hoa thơm cỏ lạ đó, để rồiluyện thành mật sáp nuôi dưỡng tinh thần, đời sống tâm linh. Làmột đạo sĩ trưởng thành trên nền tảng giáo lý giác ngộ giảithoát xuất thế gian, được hấp thụ và thể nhập tư tưởng giáopháp siêu phàm của bậc Đạo sư, từ đó Thầy đã quán triệt quacác giáo nghĩa Hoa Nghiêm, một thế giới quan trùng trùng vô tận ;giá trị đích thực tu chứng từ địa vị phàm phu, đắc thành Phậtquả của kinh Pháp Hoa ; từ yếu nghĩa vô ngã, phá trừ, đập nátcái vỏ chấp ngã, để nhơn pháp câu không của Bát Nhã ; từ đỉnhnúi Lăng Già của vua Dạ Xoa đến cánh đồng A Hàm nguyên thủy,từng bước chân đi của Đức Phật, hầu như Thầy theo dõi trọnvẹn, trên lãnh vực trí tuệ thế gian, và chính nơi đây, chỉ đợiđến giây phút tối hậu, cánh cửa tâm linh bật mở, chân trờigiải thoát bao la hiện bày, và con người của thế nhân bặt dứt.

Suốt thời gian bốn năm Trung đẳng Chuyên khoa, 70-74,ngày hai buổi dạy học, như một trách nhiệm mặc nhiên, mà Thầy tựxem đó như là lẽ sống trên tinh thần phụng sự, trao truyền kinhnghiệm tu học cho tất cả. Thầy tận tụy trong từng giờ dạy học,Thầy chia xẻ những hiểu biết, tâm tình với anh em Tăng trên đồi,tháp sắt vào những buổi chiều, sau giờ cơm chung của đại chúng.Thầy kể chuyện không mấy có duyên lắm nhưng rất rộn rã và khôihài, trong những lúc đó, đôi mắt Thầy to tròn lên gần như gấpđôi diễn đạt và biến chuyển theo tình tiết câu chuyện, lời kểlúc nào cũng thâm thúy nhưng đầy vẻ hài hước, vui tươi. Thầylàm việc gần như không biết mệt, thức thật khuya nhưng dậy sớm,bên cạnh tách cà phê giúp Thầy thêm tỉnh táo để tuôn tràonhững dòng tư tưởng, triết lý, thi ca cho thời đại, đóng gópnhững tinh hoa văn học cho dân tộc, con người.

Thời gian như âm thầm trôi đi dưới mái Phật họcviện thân yêu đầm ấm, tình Thầy trò như được quyện lại bênnhau mà mỗi lần trời mưa, sáng sớm Thầy trò xuống nhà bếp nấunước sôi pha trà, thì thấy cô Bảy đã xong nồi cơm sáng cho đạichúng, còn ông Đông thì ngồi trên cái đòn gần bếp để sưởiấm, những hình ảnh thật đơn sơ, mộc mạc, và chính trong nhữnggiờ phút đó mới thấy thật gần gũi, cảm thông, tình nghĩa. Ngồibên bếp lửa bập bùng cháy sáng, tiếng lửa củi kêu tí tách,nhìn xuống chân đồi, vườn rau, luống cải của viện, cạnh chùaPhước Điền, để nghe Thầy đọc thơ :

 

Vác cuốc xuống lưng đồi

Nắng mai hồng trên môi

Phương đông mặt trời đỏ

Mùa hạ không mây bay...

Bướm vàng trên vách đá

Tịch mịch cảnh chùa xưa

Chim chóc từ viễn phố

Tình không rặng núi mờ...

Từ âm điệu, từ khung cảnh, bên bếp lửa hồng, ấmcúng, ngồi nghe giọt mưa rơi dưới mái hiên, như hình ảnh một Thiềnsư ngồi gõ nhịp thời gian, người viết làm bốn câu thơ tặng Thầy:

 

Bếp lửa hồng Thiền sư ngồi gõ mộng

Bình tâm không động giọt sương trong

Ai khơi ánh lửa chiều đông

Hơ lòng lãng tử chốc mòng phiêu du.

Đây chính là thời gian bình thản, yên lòng để loviệc học, thi cử mãn khóa, tiếp tục lên cao đẳng, thì hình ảnhThầy lại càng kề cận, chăm sóc, lo lắng cho anh em học Tăng hơnnữa. Thầy đã soạn thảo chương trình, bài giảng, học liệu đểmở ra chân trời Cao đẳng Chuyên khoa mà ước nguyện của quý Ôn,quí Thầy mong thành đạt, để mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên củadịch thuật, người lãnh đạo trực tiếp là Thầy. Tất cả mọi nỗlực được thành như ý nguyện, tấm bảng hiệu Viện Cao Đẳng PhậtHọc Hải Đức Nha Trang được dựng lên nơi đầu đường, cạnhchùa Núi, Linh Phong Cổ Tự. Và cũng chính từ ngày hôm đó, thờigian ấy, Thầy bận rộn nhiều, phần học vụ làm Thầy không có thờigian như trước. Ban ngày lo soạn chương trình, bài vở, hoặc dịchthuật, trước tác và phụ tá cho Hòa thượng Viện Trưởng, banđêm đến giờ hô canh ngồi Thiền thì Thầy lại mặc áo tràng, bâygiờ thì Thầy đã có đủ áo quần đàng hoàng như quí Thầy khácmà không như trước, một nghệ nhân, hay du sĩ, đi canh chúng ngồiThiền, nhìn qua lỗ trống của mỗi phòng trên dãy nhà cư xá Tăngsinh viên, nằm ven triền đồi Trải Thủy gần gác chuông. Những đêmmưa gió, từ biển khơi thổi vào đập nát cả lá hoa sườn đồi,nhưng Thầy vẫn không bỏ giờ canh Thiền đại chúng.

Xem thêm: Cách Tập Vai Tại Nhà Với Tạ Đơn Cơ Bản Dễ Thực Hiện, 5 Động Tác Đơn Giản Tập Cơ Vai Tại Nhà

Thời gian của năm thứ nhất cao đẳng cũng là thờigian chiến tranh bùng nổ dữ dội, chiến trận tổng tấn công của bộđội Bắc Việt, xâm chiếm từ các vùng cao nguyên Trung phần, từcác tỉnh Dầu Giây, Xuân Lộc, Củ Chi, miền Tây, và miền Đông SàiGòn. Trong khi đó, từ các tỉnh địa đầu vĩ tuyến 17 cũng mất dầnan ninh, và cuối cùng là bộ đội Bắc Việt tiến chiếm dần miền Nam.

Trước tình thế mới đầy rối ren, khủng hoảng, chưabiết phải xử trí như thế nào, ngay tối hôm đó, anh em học Tănggặp Thầy tại thư viện, quây quần bên nhau, mong tìm phương pháp giảiquyết, có anh em đề nghị Thầy nên di tản, chúng ta không thể ởlại viện được nữa. Khi ấy, anh em cứ ngỡ là Thầy sẽ đồng ý,chấp nhận cho anh em tự do đi, hay là đi cùng đi tập thể, nào ngờThầy nhìn tất cả anh em, rồi nói bằng giọng cương quyết : "Tôivẫn còn đây, thì anh em cũng phải ở đây, quê hương và đấtnước này còn cần đến anh em nhiều hơn nữa. Chúng ta không thểtrốn chạy khi dân tộc, đạo pháp đang gặp cảnh điêu linh".Qua lời nói khẳng khái đó, ai nấy đều nhìn nhau mà bàng hoàng.Trong cái bàng hoàng thầm kính phục tấm lòng sắc son, hy sinh đờimình để chia xẻ nỗi tang thương vận nước. Một con tim nóng hổi đangấp ủ, che chở hàng triệu con tim đang thiếu máu.

Đây là thời điểm đánh dấu sự quyết định dứtkhoát của Thầy là phải ở lại trên mảnh đất quê hương này.Dân tộc, đạo pháp còn cần sự có mặt của Thầy. Ngày nào dântộc còn lầm than, quê hương còn khốn khổ thì ngày đó còn cónhững đôi tay, khối óc như Thầy để cày xới, gieo rắc hạt mầmyêu thương, để vơi đi sự thù hận, để thấy trên quê hương còncó những bông hoa tươi thắm tô điểm, thêm hương, khởi sắc giữacánh đồng hoang, lau sậy gầy guộc. Thầy là hiện thân của đóa hoatình thương nguyện ở lại để thọ nhận thương đau cùng với cáithương đau của dân tộc, nguyện dấn thân vào nơi khốn cùng, củacơn phong ba bão tố để đưa con thuyền đạo pháp đến bến bờ bìnhyên. Sự ở lại của Thầy mang nhiều ý nghĩa của một tâm hồnđạo sĩ, thi sĩ, văn nhân, và tự tình con dân nước Việt. Là mấuchốt, là yếu điểm vàng son của chặng đường lịch sử dân tộcvà đạo pháp. Thầy ở lại vì còn hàng triệu người ở lại.Thầy không đi vì chung quanh Thầy còn nhiều đôi tay giơ lên réo gọiThầy. Quê hương Việt Nam, dân tộc giống nòi, ngàn năm Tổ quốc,còn hiện rõ hình bóng chư vị anh hùng liệt nữ, một thời chốngxâm lăng giữ yên bờ cõi, một Lý Thái Tổ, Lê Đại Hành, TrầnThái Tông, Trần Thánh Tông... là những vị Phật tử mang hương vịgiáo pháp giải thoát giác ngộ vào nơi trận mạc, giữa chốn baquân, trong cơn quốc biến để tu tập và giáo hóa. Một đại tướngTrần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi... là những bậcthiền sư, bằng đôi tay mạnh, trái tim nóng để an bang xã tắc, thìcó lý do nào để ra đi ? Đó là những hình ảnh hào hùng củangười dân Việt. Còn đạo Phật Việt thì sao ? Từ thuở đầuđời, những bước chân chập chững của chư vị Pháp sư, Tổ Đứcgieo rắc ánh đạo mầu vào lòng dân tộc, trên mảnh đất Luy Lâuthân yêu, một Ngài Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác... hayvào thời cận đại, Tổ Phước Huệ, chùa Thập Tháp, Tổ LiễuQuán, Phú Yên, Bồ Tát Quảng Đức, ngọn lửa bình đẳng, tự dotín ngưỡng, đã thắp sáng bao thập niên qua. Những hình ảnh đósừng sững như tường đồng, vách sắt trong mỗi nhịp thở con timcủa Thầy, và hình ảnh của một thế hệ, một chặng đường lịchsử của đạo pháp còn cần sự tiếp tay của Thầy, còn cần lờinói của Thầy, còn cần ngọn bút thiên tài của Thầy để viết nênnhững trang sử vàng son, oai hùng của thời đại. Và đến giờnày, thật sự Thầy đã viết nên những dòng sử mệnh đó.

Sau sự quyết định của Thầy, tất cả anh em học Tăngđều vui vẻ ở lại tiếp tục làm việc dưới sự hướng dẫn củaThầy. Lúc bấy giờ, viện đã đóng cửa, một số anh em đã trởvề với Thầy Tổ, số còn lại lo công việc dịch bộ Trung, TăngNhứt và Tạp A Hàm. Tuy nhiên, sau khi hoàn thành bộ Trung A Hàm thìhoàn cảnh lại không cho phép. Lý do, người thì phải đi lao độngxã hội chủ nghĩa, kẻ phải đi làm thủy lợi, kinh tế mới... sảnxuất các hợp tác xã, nói chung là không còn có thì giờ đểngồi xem kinh, trước tác gì nữa. Và cũng chính trong thời điểmnày, 1976, đời sống giữa anh em với Thầy cũng cách xa. Thầy cũngphải đi lao động, làm rẫy tại Vạn Ninh, Vạn Giả, vui với cỏ cây,khoai sắn, lúa mạ, vườn tược, làm xúc cảm hồn thơ của Thầy,và tập thơ "Soi Đê" được ra đời. Nhưng có lẽ,điều mà Thầy nhìn thấy mạnh mẽ và thiết thực nhất là quêhương bị tàn phá, dân tộc bị lầm than, đạo pháp bị bức bách, cảmột thế hệ trẻ bị vong bản vì nền cai trị chuyên chính độc tàicộng sản đang ngự trị và bạo hành đất nước, cho nên Thầy càngthấy buồn cho tiền đồ đạo pháp, vận mạng quốc gia sẽ ra sao ? Lúcnày trông Thầy như cánh hạc trong đêm, khi gặp khi không, vì Thầythường ở nơi cái chòi bằng tranh, "Soi Đê" của Thầytại Vạn Giả, để ngày thì vác cuốc làm rẫy, tỉa bắp, trồng rau,đêm thì nằm nghe núi rừng u tịch, tiếng côn trùng rỉ rả, dế mènnỉ non dưới lòng đất mới. Tiếp xúc với mảnh đất gầy gò quêhương, qua chứng tích điêu tàn hoang lổ trên đất mẹ, không cầmđược lòng đau thương, tủi phận cho giống nòi Hồng Lạc, cho nhữnghạt giống tinh anh, siêu việt của dân tộc bị mai một, và cho nhữngcái gì của hàng ngàn năm lịch sử bị tàn phá, quê hương lùi dầnvào bóng đêm, và tâm tình của Thầy như lời thơ "MườiNăm Trong Cuộc Lữ" :

 

Ngọn gió đưa anh đi mười năm phiêu lãng

Nhìn quê hương qua chứng tích điêu tàn

Triều đông hải vẫn thì thầm cát trắng

Chuyện tình người và nhịp thở của Trường sơn

Mười năm nữa anh vẫn lầm lì phố thị

Yêu rừng sâu nên khóe mắt rưng rưng

Tay anh vói trời cao chim chiều rủ rỉ

Đời lênh đênh thu cánh nhỏ bên đường

Mười năm sau anh băng rừng vượt suối

Tìm quê hương trên vết máu giữa đồng hoang

Chiều khói nhạt như hồn ai còn hận tủi

Từng con sông từng huyết lệ lan tràn

Mười năm đó anh quên mình sậy yếu

Đôi vai gầy từ thủa dựng quê hương

Anh cúi xuống nghe núi rừng hợp tấu

Bản tình ca vô tận của Đông Phương

Rồi ngày ấy anh trở về phố cũ

Giữa con đường còn rợp khói tang thương

Trong mắt biếc mang nỗi hờn thiên cổ

Vẫn chân tình như mưa lũ biên cương.

Từ Nha Trang ra Vạn Giả khoảng 60 cây số, Thầy đã đivề bằng những chuyến tàu đêm, âm thầm lặng lẽ trong tâm tư lắngđọng nên Thầy ít nói hơn khi xưa. Có lúc Thầy đóng cửa phòngở một mình cả tuần không cơm nước. Thầy chỉ uống nước chanhđường, hoặc nước lạnh, thỉnh thoảng mới thấy Thầy đi bách bộbên ngoài. Trông Thầy gầy hẳn, nhưng trên khuôn mặt luôn luônphảng phất một niềm riêng sầu kín, thiêng liêng qua ánh mắt. Mộttâm sự, nỗi niềm dường như không thể nói cùng ai, dù thời gianấy vẫn có Hòa thượng Viện Trưởng, Thượng tọa Giám sự,Thượng tọa Phó Viện Trưởng, cùng anh em học Tăng. Có lẽ, tấtcả không ai có thể hiểu và cảm thông được nỗi lòng chấtchứa, tràn đầy những tâm sự mà chẳng biết tỏ cùng ai, nênThầy đã dùng đến vần thơ để diễn đạt :

 

Ta làm kẻ rong chơi từ hỗn độn

Treo gót hài trên mái tóc vào thu

Ngồi đếm mộng đi qua từng đọt lá

Rũ mi dài trên bến cỏ sương khô

Vì lêu lổng mười năm dài gối mộng

Ôm tình già quên bẵng tuổi hoàng hôn

Rồi một sáng nghe chim rừng đổi giọng

Người thấy ta xô giạt bóng thiên thần

Đất đỏ thắm nên lòng người hăm hở

Đá chưa mòn nên lòng dạ trơ vơ

Thành phố nọ bởi mưa phùn nắng quái

Nên mười năm quên hết mộng giang hồ.

...

Này đêm rộng như khe rừng cửa biển

Hai bàn tay vén lại tóc tơ xưa

Miền đất đỏ trăng đã gầy vĩnh viễn

Từ vu vơ trong giấc ngủ mơ hồ

Một lần định như sao ngàn đã định

Lại một lần nông nỗi vết sa cơ

Trời vẫn vậy vẫn mây chiều gió tĩnh

Vẫn một đời nghe kể chuyện không như

Để sống chết với điêu tàn vờ vĩnh

Để mắt mù nhìn lại cuối không hư

Một lần ngại trước thông già cung kỉnh

Chẳng một lần lầm lỡ không ư ?

Ngày mai nhé ta chờ mi một chuyến

Hai bàn tay vén lại tóc tơ xưa

...

Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ

Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng ?

Đến tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Giờ ngó lại bốn vạch tường ủ rũ

Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn.

Rồi từ đó, xuôi ngược, trải qua bao nhiêu thácghềnh, biến cố của quê hương, xứ sở, mỗi người một ngả, hàngvạn lối chông gai; tuy nhiên người viết vẫn còn cái duyên tao ngộvới Thầy, mà trải qua bao năm tháng cùng Thầy làm việc, phiên dịchđánh máy kinh điển, Trung A Hàm, sưu tra tuyển tập Nikàya - A Hàm, KinhPháp Cú... tại thư viện Phật học viện Nha Trang. Tất cả những kỷniệm đó còn đậm nét trong tâm khảm để đến hôm nay được tiếptục những gì còn dang dở của một thời đèn sách, miệt mài bútnghiên.

Sau khi Viện Cao Đẳng Hải Đức Nha Trang đóng của nhưđã nói ở trên. Ôn Già Lam vẫn mang hoài bão phụng sự, giáodục thế hệ trẻ. Để hoàn thành ước nguyện đó, Thầy là mộttrong những người nòng cốt cho sự tiếp nối chương trình cao cấpbốn năm của lớp học Tăng sinh Già Lam. Lớp học được hìnhthành, trải qua bốn năm vừa làm việc vừa học hành trong sự lolắng mà nhiều đêm cả chùa chẳng ai ngủ được, vì công an soáthộ khẩu một hai giờ khuya, anh em học Tăng phải leo lên trần nhàđể trốn.

 

CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN KẾT ÁN Tử HÌNH HAI THƯỢNG TỌATHÍCH TUỆ SỸ - PHẠM VĂN THƯƠNG VÀ THÍCH TRÍ SIÊU - LÊ MẠNH THÁT

Một buổi sáng mùa xuân, cuối tháng 3 năm 1984, khítrời êm ả, cảnh vật êm đềm, tĩnh lặng cũng như bao nhiêu thờikhóa công phu và lạy Sám mỗi sáng. Ôn Già Lam và đại chúng xongthời lễ tụng 108 biến Hồng danh. Về phòng, Ôn uống trà và điểmtâm. Sau giờ điểm tâm, là việc làm thường nhật, tưới nước,quét sân, cho cá ăn... Nhưng sáng hôm nay Ôn đã không làm việcđó, vì có lệnh công an mời lên họp trên Mặt trận Tổ quốc, dovậy Ôn đi từ sáng sớm. Sau khi Ôn đi rồi thì công an vào soátchùa Già Lam, đồng lúc bên viện Phật học Vạn Hạnh cũng bị soát.Họ, công an, bắt quí thầy vào ngồi phòng khách, không được đilại, một số công an khác lên phòng Thầy Tuệ Sỹ và Nguyên Giáckè hai Thầy lên xe và chở đi, không nói một lời từ biệt. Vàbên Vạn Hạnh cũng không khác, cùng một thủ thuật, họ bắt ThầyTrí Siêu và Thầy Như Minh cũng kè ra xe rồi chạy mất. Có điềuthật dễ thấy là mạng lưới công an đã bao vây chùa Già Lam vàVạn Hạnh từ sáng sớm, cũng như họ đã toan tính trước, vì vậy,bên chùa Già Lam thì họ mời Ôn đi họp sớm, còn bên Vạn Hạnhthì Ôn Minh Châu cũng đã đi họp mấy hôm ở Hà Nội, cho nên cảhai nơi đều vắng mặt hai Ôn, mục đích để họ dễ bề hành sự.

Ngoài thiên tư, bẩm chất của một nhà sử học, đạohọc, nghiên tầm Đại Tạng kinh điển. Thầy còn là một Bác sĩ Y khoatốt nghiệp tại Hoa Kỳ, mà qua thời gian thân phụ Thầy là Ôn TríLưu. Giám tự Linh Mụ, Huế, bịnh nằm trong phòng Thầy, Viện VạnHạnh, tự tay Thầy chăm sóc thuốc men, cơm cháo. Thầy cùng thân phụlà đệ tử của cố Đại Lão Hòa Thượng Chánh Thư Ký kiêm Xửlý Viện Tăng Thống, Hòa Thượng Thích Đôn Hậu.

Thân thế và sự nghiệp của hai Thầy khác hẳn vớitất cả mọi người. Thầy Tuệ Sỹ là đệ tử của Hòa ThượngViện trưởng Viện Hóa Đạo Thích Trí Thủ, có một sự nghiệp vănhọc lừng lẫy, giáo pháp thông suốt, liễu tri, thơ văn đầy ắptrong tư tưởng. Còn Thầy Trí Siêu như trên đã nói, cả hai lànhững ngôi sao sáng dưới bầu trời Việt Nam, là tinh hoa nướcViệt, là những cây bút trác việt, tuyệt luân của Phật giáo,chính những yếu tố đó mà hai bản án tử hình đã tròng vào cổhai Thầy. Cộng Sản không thể làm ngơ và để tự do cho những conngười ưu tú như vậy. Đọc lịch sử hình thành từ những ngàyđầu tiên của Cộng sản Quốc tế, đến đường lối xây dựng xãhội chủ nghĩa Việt Nam hôm nay, ai cũng thấy tầng lớp công nôngđứng lên cướp chính quyền, đấu tố giai cấp thượng lưu, tríthức, địa chủ, phú hương. Do vậy, sự hiện diện của hai Thầy trongxã hội chủ nghĩa không có lý do gì tồn tại được, mà đã khôngthể tồn tại được thì chế độ Cộng sản phải làm gì ? Đây làlý do đẻ ra bản án tử hình. Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam kếtán tử hình hai Thầy là mặc nhiên công nhận với thế giới vềviệc đàn áp Phật giáo.